Từ bi dứt hận thù

Pháp thoại Từ bi dứt hận thù được Thầy Thích Pháp Hòa thuyết giảng tại tu viện Trúc Lâm, ngày 12/07/2020

YouTube Video

“Khắp nơi trong cõi dương gian

Hận thù đâu thể xua tan hận thù

Chỉ tình thương với tâm từ

Làm tiêu oán hận, giải trừ hờn căm

Đó là định luật ngàn năm .”

Bài này mình thấy giống mấy câu kệ trong kinh pháp cú là :

“Lấy hận diệt hận thù

Đời này không thể có

Từ bi diệt hận thù

Là định luật ngàn thu.”

Ta thấy những câu kệ trong kinh pháp cú rất là dễ hiểu. Với một người bình thường chưa biết Phật pháp, đọc qua cũng có thể hiểu được ý nghĩa của chúng.

Oán thù nên giải, không nên kết.

Trong cuộc sống này, không phải lúc nào ta cũng có thể sống vừa lòng được hết tất cả mọi người. Cũng có những người không thích ta, thậm chí muốn gây khó dễ hay hãm hại ta.

Và khi ta bị người chơi xấu, thậm chí hãm hại. Với tư cách là một người tu hành thì ta phải phản ứng hay xử sự ra sao đây ?

Thường thì để hai con người bất kì gặp nhau và quen biết nhau cũng không phải dễ. Đều phải có nhân duyên , có những mối liên hệ, liên quan với nhau từ những kiếp quá khứ.

Nếu ta gặp họ, ta chẳng làm gì mà họ cứ quấy phá ta hay làm hại ta. Thì ta phải hiểu rằng hai bên đều có nhân duyên nghịch với nhau trong những kiếp trước.

Có thể kiếp trước người đó là con heo, và ta đã ăn thịt của chúng,…v.v

Thì trong tâm ta đừng bao giờ khởi tâm muốn trả thù, hay đáp trả lại, ta vẫn từ bi thương yêu, giữ tâm bình thản. Và cần xử lý hết sức khôn ngoan, khéo léo. Vì phía sau ta vẫn còn có pháp luật can thiệp.

Điều này sẽ làm cho ân oán không tiếp tục kéo dài nữa, mà sẽ bị yếu dần theo thời gian, và chấm dứt.

Đây là do ta dùng tâm từ bi để hóa giải.

Còn nếu theo thế gian, người này đánh người kia, người kia ôm hận, nuôi hận thù rồi chờ ngày báo thù lại. Cứ trãi qua bao nhiêu kiếp vậy, biết bao giờ mới kết thúc được.

Trong nhiều bài kinh ta thấy cũng có vài ví dụ như :

Kiếp này hai người đều là người giết nhau, A giết B.

Qua kiếp sau, B là người sẽ giết A, A lúc này đang bị đọa làm heo.

Qua kiếp sau, A là hổ, giết B là hươu.

Qua kiếp sau nữa, B là mèo giết A là chuột.

………….

Như vậy đó, biết bao giờ mới dừng, mới kết thúc.

Do vậy, chỉ có từ bi tha thứ thương yêu bỏ qua mối thù xưa, thì mới chấm dứt ân oán được.

Đây là định luật ngàn năm, bất di bất dịch.

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

source https://www.niemphat.vn/tu-bi-dut-han-thu/

Từng giọt sữa thơm

Pháp thoại Từng giọt sữa thơm (42 phần) được Thầy Thích Pháp Hòa chia sẻ tại Tu viện Trúc Lâm, ngày 17/04/2020

Từng giọt sữa thơm phần 1 – Thầy Thích Pháp Hòa

YouTube Video

source https://www.niemphat.vn/tung-giot-sua-thom/

Power vs Force (Năng Lượng và Sức Mạnh)

Hôm nay mình chia sẻ cho các bạn một cuốn sách rất hay. Cuốn Power vs Force (Năng Lượng và Sức Mạnh) – Trường năng lượng và những nhân tố quyết định tinh thần, sức khỏe con người của Tiến sĩ, bác sĩ tâm thần, nhà nghiên cứu nhận thức và giảng viên tâm linh nổi tiếng thế giới người Mỹ, ông David R.Hawkins (1927–2012).

Power vs Force (Năng Lượng và Sức Mạnh)
Power vs Force – Trường năng lượng và những nhân tố quyết định tinh thần, sức khỏe con người

Cuốn sách là công trình nghiên cứu cả đời. Tác giả đã chỉ ra: Nếu chúng ta biết dùng năng lượng đúng cách giúp chúng ta hạnh phúc và trường thọ.

Hơn 20 năm, trong đó đối tượng thử nghiệm được lựa chọn ngẫu nhiên trên khắp Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Nam Mỹ, Bắc Âu và những nơi khác, bao gồm các chủng tộc khác nhau, văn hóa, ngành nghề, khác biệt tuổi tác, tích lũy qua hàng ngàn lượt người và hàng triệu tư liệu ghi lại, thông qua các phân tích thống kê phức tạp, ông đã phát hiện ra rằng các tầng ý thức khác nhau của con người đều tương ứng với các chỉ số năng lượng, từ đó thống kê ra được những mức tần số chủ yếu như sau :

  • Khai ngộ chính giác: 700 ~ 1000
  • Điềm tĩnh thanh thản: 600
  • Vui vẻ, thanh tĩnh: 540
  • Tình yêu và sự tôn kính: 500
  • Lý tính, thấu hiểu: 400
  • Khoan dung độ lượng: 350
  • Hy vọng lạc quan: 310
  • Tin cậy: 250
  • Can đảm, khẳng định: 200
  • Tự cao, khinh thường: 175
  • Ghét, thù hận: 150
  • Dục vọng, khao khát: 125
  • Sợ hãi, lo lắng: 100
  • Đau buồn, tiếc nuối: 75
  • Thờ ơ, tuyệt vọng: 50
  • Khiển trách, tội ác: 30
  • Nhục nhã, hổ thẹn: 20

Vị tiến sĩ cũng cung cấp những thực tế thú vị mà ít người biết về tần số rung động dưới đây:

– 85% dân số trên toàn thế giới có tần số rung động ở mức dưới 200.

– Tần số rung động cao gắn với sự khỏe mạnh, tần số rung động thấp gây ra trạng thái ốm yếu/bệnh tật qua suy nghĩ, cảm xúc, lời nói, hành động …

Ông cho rằng:

“Khi một người có tần số đặc biệt mạnh, sự hiện diện của người này có thể ảnh hưởng đến từ trường trên diện rộng. Như Mẹ Teresa. Cả hội trường tràn ngập bầu không khí hòa ái, khi bà lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình. Vì sao như vậy? Bởi tần số rung động của bà rất cao, từ trường của bà đến từ năng lượng từ bi, làm cảm động hết thảy môi trường  xung quanh.”

“Một ví dụ khác về người vô gia cư. Họ thường cảm thấy thất vọng, tự ti, mặc cảm, chỉ muốn buông xuôi thì tần số rung động của họ chỉ ở mức 20.

Tuy nhiên cách nhìn của người xung quanh đối với người vô gia cư này sẽ chỉ rõ tần số rung động của họ ở mức nào. Có người thì cho rằng vì họ nghiện ngập và nếu cho tiền thì họ cũng đem mua rượu hay cung phụng cho cơn ghiền. Họ nghĩ những người vô gia cư không nên tồn tại. Cảm nghĩ này cho thấy tần số rung động của người đó cũng chỉ ở mức 20. Điều thú vị là 2 hoàn cảnh nầy trái ngược nhau nhưng tần số rung động lại bằng nhau.

Lại cũng có người khác muốn tránh xa khi thấy người vô gia cư vì có cảm giác sợ sệt hay vô cảm thì tần số rung động cũng chỉ ở mức từ 50-100.”

Cuốn “Power vs Force” (Năng lượng và Sức Mạnh), đã cho biết những người không được thương yêu hay có tư tưởng tiêu cực, oán giận, chỉ trích, hận thù người khác hoặc sống ích kỷ đều có tần số rung động thấp. Trong quá trình trách móc, hận thù người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ và nó cũng tạo ra nhiều áp lực trên cơ thể vì thế tần số rung động sẽ giảm và những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh ung thư, tim mạch, béo phì ….

CHÍNH CHÚNG TA TẠO RA TỪ TRƯỜNG XUNG QUANH MÌNH. NÊN NGƯỜI TA HAY GỌI LÀ LUẬT HẤP DẪN. NHỮNG CON NGƯỜI CÓ CÙNG MỨC NĂNG LƯỢNG DỄ RUNG ĐỘNG VỚI NHAU HƠN.

KHI ĐỔ VỠ MỘT MỐI QUAN HỆ HÃY XEM LẠI TỪ TRƯỜNG DO MÌNH TẠO RA THẾ NÀO TRƯỚC KHI TRÁCH CỨ CUỘC SỐNG.

Bởi vậy, bạn đã hiểu vì sao chúng ta khi gặp một người nào đó hay đến một vùng nào đó, tự dưng thấy thương, thấy quen thuộc, thấy bình an, và ngược lại chưa?

Bởi vì ở đó có từ trường, có sự hiện diện của nguồn năng lượng yêu thương hay năng lượng hận thù, căng thẳng.

Trong một nghiên cứu dài hơi khác kéo dài 80 năm của Đại Học Harvard, các nhà khoa học đã theo sát cuộc sống của 724 nam giới, gửi cho họ những bảng câu hỏi và phỏng vấn tại chính nhà mỗi người. Họ được theo dõi sức khỏe qua hồ sơ y tế, lấy mẫu máu, quét não. Các chuyên gia còn trò chuyện với vợ và con cái những người tham gia.

Chia sẻ của giáo sư Robert Waldinger về kết quả nghiên cứu nói rằng, “những người hạnh phúc, khoẻ mạnh và sống thọ là những người có những mối quan hệ xã hội, gia đình tốt đẹp”.

Tiến sĩ Elizabeth Blackburn, người đoạt giải Nobel năm 2009 về sinh lý học, tổng kết các yếu tố sống thọ: Nếu bạn muốn sống hơn 100 năm, chế độ ăn uống hợp lý chiếm 25%, các yếu tố khác 25%, trong khi CÂN BẰNG TÂM LÝ CHIẾM TỚI 50%.

MỘT TRÁI TIM YÊU THƯƠNG, MỘT TINH THẦN VUI VẺ, LẠC QUAN … giúp chúng ta đứng vững giữa cuộc đời đầy biến động vô thường này.

Tâm trí và cơ thể con người hoạt động nhịp nhàng bởi sự phối hợp giữa hai hệ, hệ thần kinh và hệ nội tiết. Hệ nội tiết chi phối bằng cách tiết ra hormon hay nội tiết tố. ( Bởi vậy bác sĩ nội tiết rất ư là quan trọng đó nghe, hihi …)

Theo thời gian, thì chính biến đổi tâm lý và thái độ của chúng ta tác động ngược lại ( feedback ) lên hệ thần kinh và nội tiết. Nếu chúng ta thường xuyên trong trạng thái lo lắng bồn chồn và tâm trí tràn ngập sự tức giận, căng thẳng, tham lam, những suy nghĩ xấu, cơ thể sẽ tạo ra các hoóc môn quá mức làm hỏng hệ thống miễn dịch, hàng rào phòng vệ của cơ thể.

Ngược lại, khi chúng ta cảm thấy hạnh phúc, não của bạn sẽ tiết ra dopamine và các hoóc môn có lợi khác.

“Điểm chung trong số những người trăm tuổi – tất cả đều có trái tim vui vẻ.”

Từ đó, chúng ta hãy thiết lập mục tiêu sống lành mạnh có thể tăng trưởng năng lượng cuộc sống.

Khi chúng ta nuôi dưỡng được niềm tin và lòng thương rồi, những khó khăn, bệnh tật, cái chết không làm chúng ta hoảng sợ nữa.

Duy trì một thái độ tích cực và một tinh thần lạc quan, chuyện lớn hoá chuyện nhỏ, chuyện nhỏ hoá thành không để sống hạnh phúc và ngăn ngừa lão hoá.

Bản lược dịch của mylittlel0ve này có các ghi chú chỉnh sửa hơi khó đọc, chỉ mang tính chất chia sẻ phi thương mại và chưa được sự đồng ý của tác giả. Mình mua sách giấy trên Lazada / Tiki bao gồm phí vẫn chuyển chỉ khoản 120k, nếu có điều kiện bạn nên đặt 1 cuốn sẽ tốt hơn.

Download bản lược dịch: https://mega.nz/#!Btl3BByZ!1_-W_YhLov3ct-f3QlFmbY1jyuwH0Fy36F2XOuyET4Y

Download bản gốc: https://mega.nz/#!NkcVSJCI!mH8WrFUOVkXFZh46i0-UO0mAT6UO78QO5-Gzpco0Ef8

source https://www.niemphat.vn/power-vs-force/

5 giấc mơ diệu kỳ của Đức Phật

Sau sáu năm tu khổ hạnh với những người bạn đồng tu là năm anh em Kiều Trần Như không có kết quả, Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ lối tu khổ hạnh, trở lại ăn uống bình thường. Năm bạn đồng tu thấy vậy đã từ bỏ Bồ Tát đi đến vườn Lộc Uyển.

Một mình Bồ Tát ở lại tu tập thiền định trong rừng thanh vắng.

Sau mười lăm ngày kể từ khi các bạn đồng tu bỏ đi, Bồ Tát mơ thấy năm giấc mơ lớn vào lúc trời gần sáng. Người phàm, vua chúa, chuyển luân thánh vương hay các vị đại đệ tử của Phật đều không nằm mơ mà chỉ có Bồ Tát mới mơ thấy năm giấc mơ này.

Trong Tăng Chi Bộ (phần Năm Pháp) có ghi rằng: “Trong đêm trước ngày thành đạo dưới gốc Bồ-đề, Thái tử Tất Đạt đã nằm mộng thấy năm chuyện kỳ lạ”. Sau này khi kể lại, đức Phật đã giải thích rằng đó là điềm báo trước cho những gì xảy ra với Ngài sau đó.

Giấc mơ diệu kỳ đầu tiên

5 giấc mơ diệu kỳ của Đức Phật
Đại giấc mơ đầu tiên, Bồ Tát mơ thấy mình bỗng hóa khổng lồ và đang ngủ trên bề mặt trái đất, đầu của Ngài gối trên đỉnh núi Himalaya, tay trái đặt ở biển đông, tay mặt đặt ở biển tây, hai chân ở biển phía nam.

Bồ Tát mơ thấy mình bỗng hóa khổng lồ và đang ngủ trên bề mặt trái đất, đầu của Ngài gối trên đỉnh núi Himalaya, tay trái đặt ở biển đông, tay mặt đặt ở biển tây, hai chân ở biển phía nam. Linh kiến này nói lên rằng Bồ Tát sẽ chứng thành bậc Chính Đẳng Chính Giác và là bậc thầy của trời, người.

Giấc mơ diệu kỳ thứ hai

5 giấc mơ diệu kỳ của Đức Phật
Đại giấc mơ thứ 2: Bồ Tát mơ thấy cọng cỏ Tiriya màu đỏ mọc lên từ rốn của Ngài. Nó cao dần, chọc đến trời và dừng ở đó.

Bồ Tát mơ thấy cọng cỏ Tiriya màu đỏ mọc lên từ rốn của Ngài. Nó cao dần, chọc đến trời và dừng ở đó. Đây là điềm báo cho việc Ngài tìm thấy nẻo giải thoát qua Bát Chính Đạo và đem giáo hoá khắp nhân thiên muôn cõi.

Giấc mơ diệu kỳ thứ ba

5 giấc mơ diệu kỳ của Đức Phật
Đại giấc mơ thứ 3: Bồ Tát mơ thấy từ bốn hướng bay đến bốn loại chim, màu xanh, màu đỏ, màu xám và màu vàng. Khi bay lại đậu trên chân của Bồ Tát, tất cả chúng đều chuyển thành màu trắng

Bồ Tát mơ thấy từ bốn hướng bay đến bốn loại chim, màu xanh, màu đỏ, màu xám và màu vàng. Khi bay lại đậu trên chân của Bồ Tát, tất cả chúng đều chuyển thành màu trắng. Linh kiến này báo rằng bốn giai cấp vua chúa, tăng sĩ, thương gia và dân thường đều quy phục giáo pháp của Ngài, xuất gia và chứng quả.

Giấc mơ diệu kỳ thứ tư

5 giấc mơ diệu kỳ của Đức Phật
Đại giấc mơ thứ 4: Bồ Tát mơ thấy những con giun màu trắng bò lên chân mình và phủ kín đầu gối

Ngài mơ thấy những con giun màu trắng bò lên chân mình và phủ kín đầu gối. Đây là điềm báo về sự xuất hiện đông đảo các cư sĩ áo trắng quy phục Ngài.

Giấc mơ diệu kỳ thứ năm

5 giấc mơ diệu kỳ của Đức Phật
Đại giấc mơ thứ 5: Bồ Tát mơ thấy Ngài đi trên một ngọn núi lớn đầy chất nhơ uế nhưng hai chân Ngài tuyệt không bị vấy bẩn mảy may.

Bồ Tát mơ thấy Ngài đi trên một ngọn núi lớn đầy chất nhơ uế nhưng hai chân Ngài tuyệt không bị vấy bẩn mảy may. Đây là điềm báo về việc Ngài sẽ nhận được sự kính nể, cúng dường khắp nhân thiên với một lòng vô nhiễm.

Khi Bồ Tát thức giấc, Ngài ngồi kiết già và suy nghĩ: “Khi còn ở hoàng cung, ta có mơ thấy năm linh kiến như vậy không? Ta có thể hỏi phụ hoàng và mẫu hậu của ta nếu người còn sống. Nhưng bây giờ, ở rừng Uruvela này, chỉ có mình ta, không có ai lý giải những điềm chiêm bao này cho ta. Ta sẽ tự mình lý giải những giấc chiêm bao của ta vậy”.

Rồi Ngài tự lý giải những linh kiến như trên. Khi trời sáng, Ngài đi xuống dòng sông Ni Liên Thiền tắm gội sạch sẽ, đến ngồi dưới gốc cây Bồ đề mặt quay về hướng đông, thiền định 49 ngày và thành Phật.

Theo daibaothapmandalataythien.org

source https://www.niemphat.vn/5-giac-mo-dieu-ky-cua-duc-phat/

Tư duy về tri kiến Phật

Pháp Hoa kinh là vua của các kinh vì ở vào thời kỳ thứ 5 trong lịch sử đạo Phật. Lúc bấy giờ là cuối đời thọ mạng của đức Phật nên kinh giảng của người mang toàn bộ tính chất của đạo Phật do người thuyết pháp. Có hai cốt lỏi của kinh Pháp Hoa là Phật tánh và Tri kiến Phật.

Phật tánh đã được tóm lược trong bài Nhận biết Phật tánh cùng tác giả. Tri là biết, kiến là thấy, biết thấy Phật là gì? Biết là tuệ giác người dạy cho chúng ta và thấy là thấy đại từ bi của Phật. Đó là trí tuệ và từ bi là đôi cánh chim đại bàng cất cao bay lên trong tu tập. Chúng ta nghiên cứu trí tuệ của toàn bộ đạo Phật một cách tổng luận để tư duy, về phần từ bi chúng ta đã hiểu qua bài Tôi Học kinh Pháp Hoa đồng tác giả. Trí tuệ đạo Phật có gồm hai phần triết lý đạo Phật và ứng dụng. Tri kiến Phật là nắm hết các điểm chính của đạo Phật theo lịch sử của thời gian. Chúng ta hãy đi sâu về tuệ giác.

Tư duy về tri kiến phật

Triết lý và ứng dụng

a. Nguyên lý Duyên khởi: Khi Đức phật đắc đạo, nguyên lý đầu tiên người giảng giải là duyên khởi: cái này có cái kia có, cái này sinh cái kia sinh, cái này diệt cái kia diệt, cái này không cái kia không. Vạn pháp làm duyên cho nhau mà hiện hữu và tiêu diệt theo luật thành trụ hoại không, sinh trụ hoại diệt. Không có một thượng đế nào sáng tạo ra muôn loài. Đây là một lý thuyết nồng cốt đi xuyên suốt đạo Phật. 

Ứng dụng 1 là Nghiệp cảm duyên khởi, còn gọi là 12 nhân duyên. Đây là nguyên lý giải thích sự luân hồi của con người chuyển biến qua 12 giai đoạn tạo thành một vòng tròn kín theo thời gian. Tây phương xem thời gian là đường thẳng từ quá khứ đi đến hiện tại rồi tương lai. Đạo Phật xem thời gian là vòng tròn, bất cứ việc gì xảy ra của vũ trụ con người đều là vòng tròn kín, vì kín nên không có bắt đầu và không chấm dứt. Vô minh là sự tiếp theo của cái chết, vô minh không có nghĩa là ngu dốt mà có nghĩa là có ý thức nhưng mù quáng, có hiểu biết nhưng đam mê. Quá khứ có 5 giai đoạn:  Vô minh rồi đến hành động rồi lục nhập là 6 cửa nhập vào cơ thể là mắt tai mũi lưỡi thân ý là 6 giác quan. Đứa bé được chào đời là có ngay 3 giai đoạn này. Kế tiếp là có tiếp xúc ở 2 năm đầu. Từ xúc thì có cảm thọ là cảm giác, tri giác. Đến 5 tuổi đứa bé là bắt đầu ở giai đoạn hiện tại. Đó là Ái Thủ Hữu là trưởng thành của con người. Chúng ta lớn lên bắt đầu có ý thức và trách nhiệm nên có bắt đầu là yêu ghét thích thú buồn phiền gọi là Ái. Từ ái dục đưa đến chấp Thủ là ôm lấy giữ lấy vào người để chiếm hữu nó nên gọi là Ái Thủ Hữu, ba giai đoạn đi liền với nhau. Tương lai là sáu tuổi trưởng thành đỉnh cao là bắt đầu đi xuống.  Giai đoạn này là sinh ra già bịnh chết gọi là lão tử. Kết luận 12 nhân duyên là vô minh, hành, thức, danh sắc: đặt tên theo hình dáng bên ngoài của vạn vật, sáu xứ còn gọi là lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử. Giai đoạn Hành là tạo nghiệp nên gọi là Nghiệp cảm duyên khởi. Hành rất phức tạp gồm có thân khẩu ý tạo nên hành. Theo luật nguyên nhân và hậu quả vào giai đoạn hành nầy tạo ra nghiệp quả. Nghiệp thì có biệt nghiệp riêng chúng ta và cộng nghiệp là nghiệp chung cộng đồng. Nghiệp xảy ra liền thì gọi là thuận hiện nghiệp. Nghiệp gây báo ứng trong đời còn sống là thuận sinh nghiệp. Nghiệp báo ứng đời sau này thì gọi là thuần hậu nghiệp. 12 nhân duyên chia ra vô minh ái thủ gọi là Hoặc mê hoặc, còn lại là 5 quả hiện tại và 2 quả tương lai gọi là Khổ kết quả đau khổ. Mê hoặc là bịnh của tâm, nghiệp là hiện ra vật lý của bịnh đó và kết quả là đau khổ. Nghiệp sinh ra quả nhưng ở giữa cũng có duyên làm chất xúc tác như phản ứng hóa học cần chất xúc tác ở giữa cho phản ứng xảy ra. Vì thế tu chuyển nghiệp là chuyển duyên ở giữa nầy. Chuyển duyên cũng là áp dụng nguyên lý duyên khởi.

Ứng dụng thứ hai là A lại da duyên khởi. Nghiệp do thân khẩu ý như vậy ý thức có A lại da thức là nơi tàng trữ ý lực là hành động của tâm, tạo ra hành động. Từ đó nguyên nhân của nghiệp từ A lại da thức có chủng tử mà phát khởi ra là căn nguyên của Nghiệp cảm duyên khởi là A lại da duyên khởi. Gọi đó là tâm thức, chỉ có tâm thức đi đầu thai chứ không có linh hồn. Từ ý thức đến Mặc na thức là cái ngã cái tôi rồi tồn trữ là tàng thức, gọi chung lại là tâm thức.

Ứng đúng thứ ba là Chân như duyên khởi. Chân như còn gọi là Như lai tạng là Phật tánh nằm sẵn trong tâm của chúng sanh. Đó là trạng thái chân thật của vạn vật cội nguồn của giác ngộ, là thật tướng của các pháp. Như đây là chữ Như thị như thật. Như thật là lúc vạn pháp không còn có không gian thời gian bình đẳng như như vô tướng tịch tĩnh. Chân như chính là Phật tánh kinh Pháp Hoa. Chân như duyên khởi là cơ bản sinh ra chủng tử trong A lại da duyên khởi. Chân như biến hiện ra các chủng tử này.

Ứng dụng thứ tư là Pháp giới duyên khởi: đây là kinh Hoa Nghiêm xin đọc bài tôi học kinh Hoa Nghiêm. Thế giới này không có sự riêng lẻ mà có sự giao thoa với nhau và đó là 4 pháp giới giữa Lý và Sự. Tất cả bốn lý sự nầy tương thông tương đồng hổ tương cho nhau và làm duyên cho nhau chằng chịt như một matrix sinh diệt.

b. Nguyên lý tất định và bất định. Nói dễ hiểu là nguyên lý có định mệnh và ngược lại không có. Khoa học chủ trương thuyết không có số mệnh mà đạo Khổng Tử thì cho là có số mệnh.  Đạo Phật phủ định cả hai. Định mệnh cho rằng có số mệnh sống chết, ngược lại không có gì được định đoạt hết. Phật thì nói là do duyên và nghiệp mà vận hành. Tất cả đều do ý thường mà hiện hữu nên ý dẫn đầu các pháp trong kinh Pháp cú, hay kinh Hoa Nghiêm nhất thiếc duy tâm tạo. Tương ứng khoa học thuyết bảo toàn năng lượng của Einstein mass and energy conversion sự chuyển động của vật chất và năng lượng chuyển đổi không ngừng. Ứng dụng nguyên lý này là duyên khởi nên vô ngã vô pháp vô thường tạo ra Trung quán luận do Bồ Tát Long Thọ dẫn giải.

c. Nguyên lý tương dung. Tương dung là hổ tương dung nhiếp hai ý niệm đối kháng nhau đi đến đồng nhất. Có 3 cách đồng nhất như hình tướng khác nhau nhưng đồng nhất là một, cách thứ hai là có hình tướng đối lập nhưng cùng đồng nhất một bản chất, thứ ba là vừa đồng nhất hình tướng vừa đồng nhất bản chất như nước và sóng. Như vậy trong động có tĩnh và tĩnh có động lòng vô trong nhau. Đời sống có Niết bàn ngay trong lúc còn sống là vậy.

d. Nguyên lý Như thị. Nguyên lý này còn gọi là bất nhị không phân biệt. Trạng thái chân thực là trạng thái không có điều kiện riêng biệt nào. Nguyên tắc nầy đưa đến Trung quán luận là Như thị chỉ đạt được khi phủ nhận sự hiện hữu và phủ nhận luôn duy tâm là vậy. Hoa Nghiêm thì không có cá biệt độc lập, kinh Pháp Hoa thì như thế là như thế với thực thể chân thật nơi tại bản chất. Như thị giải thích là đóa hoa đang rụng chết là có đóa hoa đang nở sinh ra. Trong cái rụng chết có chứa cái nở sinh ra gọi là hổ tương đối đãi là trung quán. 

e. Nguyên lý Viên dung. Xin đọc bài tôi học kinh Hoa Nghiêm. Viên dung còn gọi là Pháp giới duyên khởi của kinh Hoa Nghiêm có 4 vô ngại pháp giới giữa Lý và Sự. Theo nguyên lý này không có sự hiện hữu nào có một mình hay cho cái khác. Thế giới lý tưởng này là nhất chân pháp giới.

f. Nguyên lý Niết bàn hay giải thoát viên mãn. Niết bàn được so sánh như ngọn lửa đã tắt là trạng thái của Phật sau khi nhập diệt. Phật có bảo các đệ tử đừng khóc vì pháp và luật của người để lại còn là người còn dưới hình dạng Pháp thân Phật. Sau đó có kinh luật ra đời là sự vi diệu của pháp và luật do các trưởng lão và Ananda kiến tạo. Kết tập được lập ra kỳ 1,2,3 tiếp theo, đầu tiên là những thánh điển không văn tự, tất cả đều do lời nói nhắc lại mà thôi. Kế tiếp là thánh điển không tô vẻ không đúc tượng. Sau đó là chấp nhận có kinh và tượng và bắt đầu thảo luận về Niết bàn. Kinh Đại bát Niết bàn đẻ ra giải đáp vấn đề này cho đến nay vẫn là một đề tài bàn thảo. Xin đọc bài Tư duy về Niết bàn cùng tác giả. Tất cả đều nói về trạng thái Niết bàn nhiều hơn là xác nhận vật lý một không gian cho cõi Niết bàn nên gọi là Niết bàn vô trú xứ. Vật lý ngày nay cho không gian cong nên có định vị không gian thời gian cho Niết bàn. Sự từ chối không thời gian không không gian không tạo tác không nhân duyên không bị dao động làn sóng sinh tử, sẽ không có Pháp giới theo nghĩa động nhưng có Pháp giới theo nghĩa tĩnh là Chân Như hay như thật trạng thái tối hậu hay gọi là trạng thái Niết bàn.

Tri kiến Phật

Sau phần triết lý ứng dụng của đạo Phật chúng ta nghiên cứu sự hình thành của Đại thừa về tri kiến Phật. Đó là những vấn đề liên quan Phật tánh, Tánh không và Duy thức luận.

a. Phật tánh. Kinh Pháp Hoa là kinh đầu tiên nói về Phật tánh của chúng sinh. Mọi người đều có sẵn Phật tánh và sẽ tu thành Phật. Phật tánh là tánh chất của phật, là chân như là chân tâm là tánh giác là trí tuệ Phật là Như lai tạng. Vấn để được bàn cãi nhiều là Phật tánh có sẵn trong ta nhưng tại sao khi sinh ra đời ta lại vô minh mà không có cái tánh giác này mà xử dụng? Trong bài Tôi tìm đường giác ngộ cùng tác giả: Khi xưa Bà la Môn có hỏi Phật tại sao chúng sanh có Tánh giác sẵn trong người mà không lấy nó ra, tại sao sanh ra thành vô minh?  Hỏi 3 lần Phật không trả lời, Phật bảo Ananda rằng câu hỏi này cũng giống như con người từ đâu mà có? Trái đất vũ trụ này từ đâu mà có? Chúng sanh bị bắn tên độc tham sân si không lo giải độc mà cứ hỏi ai bắn tên này? Tại sao lại bắn tên này? Có nhiều giải thích về việc này: như khi sanh ra con người bị đau đớn quá đổi vì ép thân xác nhỏ lại đi qua âm đạo phụ nữ nên đau quá mà không còn nhớ gì biết gì Tánh giác sẵn có, rồi ra đời lại bật lên ý thức phân biệt làm thành vô minh. Nhưng nếu sanh ra giải phẫu bụng thì có đau đớn như vậy đâu? Có giải thích khác mơ hồ hơn là đi đầu thai thì phải ăn cháo Lú để quên hết tánh giác của mình và quá khứ của mình. Thật ra nếu ta tu hành đạt tánh giác gọi là chánh đẵng chánh giác thì không còn luân hồi nữa thì có trở lại vô minh được đâu, Phật dạy rằng khi vàng quặng mỏ nhiễm tạp chất được phân giải thành vàng ròng (pure) rồi thì không thể trở lại vàng tạp quặng như cũ được. Đã đắc đạo Ngộ được rồi thì không bao giờ trở lại vô minh được, mà không trở lại vô minh thì không bị vòng 12 nhân duyên gò ép thì không còn sanh tử luân hồi thì thoát ra rồi, đâu còn đầu thai làm người vô minh? Như vậy chỉ có người vô minh bị nghiệp lực dẫn đi mới đầu thai làm người 6 nẻo luân hồi thì vô mình mới sanh ra mà thôi, tức là vô minh mới trở lại vô minh còn Giác ngộ rồi không thể trở lại vô minh được nữa, họ đã thành A la hán, Bồ Tát, Phật rồi. Trả lời câu hỏi bà la môn là lúc khởi thủy loài người tại sao không giử Tánh giác mà lại đầu thai là vô minh? Lời giải thích là ý thức làm che mờ Tánh giác. Như vậy Tánh giác ta có được sẳn trong tâm thức đi đầu thai nhưng khi chào đời đứa bé có dòng điện neuron dưới từ trường trái đất lên đến não bộ để tạo ra ý thức và ý thức này có trước rồi tánh giác mới có sau, do vậy mà ý thức che lấp tánh giác đi. Tuy tánh giác có sẳn trong tâm thức đi đầu thai nhưng khi sắc thân do 5 uẩn duyên hợp thì ý thức có trước do sắc có, rồi tánh giác có sau nên bị che mờ. Quan điểm này được cho là duy vật vì vật chất có trước ý thức có sau.  Cũng có thể tánh giác có trước nhưng đó chỉ là cái nhân tố của tánh giác mà thôi. Tức là vô minh thì trở lại vô minh nhưng khi tu tập Giác được rồi thì không trở lại vô minh nữa mà Giác đó là tánh giác có sẵn trong chúng sanh, chứ không lấy từ đâu mà có. Đặt câu hỏi có thật sự chúng sanh có sẵn tánh giác đó hay không? Trả lời là đúng vậy.

b. Tánh Không. Trung quán luận Tánh không của Bồ Tát Long Thọ được gói tròn trong câu: Bất cứ điều gì do nhân duyên sanh ra ta gọi đó là Không, cái đó là giả danh, cái đó cũng có nghĩa là trung đạo. Vì duyên khởi nên các pháp không có tự tánh, không tự nó độc lập hiện hữu mà phải làm duyên cho nhau mà hiện hữu. Vậy là giả danh và Long Thọ giải thích trên hai hiện tượng luận là tục đế và chân đế. Tục đế là hiện tượng các pháp hiện ra, chân đế là bản chất chân lý tìm ẩn của hiện tượng đó. Chân đế đó phải tu tập và thiền định mới hiểu được. Phải hiểu tánh không thì mới đạt được tánh giác, Trung quán luận đưa ra cho chúng ta tu tập một cách rất trừu tượng. Vì có tánh không nên vạn pháp không ở đứng yên một vị trí nào cố định của hai đầu cực đoan mà nó di chuyển không ngừng giữa chúng. Đó là Dịch hoá Pháp. Với tánh không chúng ta không bao giờ xác nhận vạn pháp ở bất cứ một vị trí nào. Như không giả cũng không thật, Niết bàn cũng là phiền não thế gian, vạn pháp không có xác định ở một điểm gì cố định. Như hiện tượng tương đối thì có tuyệt đối bên trong và ngược lại. Thuyết trung quán không phủ nhận hiện tượng tương đối nhưng cho rằng chân lý là không chấp nó cố định vì nó do duyên nên vô thường di chuyển liên tục. Sự từ chối của Trung quán luận có hai lần từ chối là cuối cùng sự khẳng định. Để đạt được cái trừu tượng này chúng ta tu tập thiền định nhìn vạn pháp bằng trực nhận trực giác là kiến thức nằm thấp dưới cái nhìn của ý thức phân tích phán xét nên đưa đến chân lý tối thượng. Tánh Không trung quán là nhận được sự tuyệt đối nầy bằng từ bỏ ý thức phân biệt hay gọi là nhị nguyên tính, nhờ đó nhìn ra được không tự tánh không tự ngã, vô pháp. Trong bài giảng về Tuệ trung thượng sĩ của Thầy Thích Nhất Hạnh có nói về sự tánh Không như sau: Thân tùng vô tướng bản lai Không; Huyễn hoá phân sai thành nhị kiến. Quán chiếu thấy thân của ta tùy thuộc vào vô tướng là ba cái giải thoát: Không-Vô tướng-Vô tác. Thân là 5 uẩn do duyên hợp lại có bản chất vô tướng của nó là Không, trống rỗng không, do duyên là nương vào nhau mà hiện hữu nên không có tự tánh độc lập tự mình mà có nên gọi là vô ngã không có cái tôi. Phật dạy vô ngã tướng là không có cái ta, không có tướng nhân là thương người, không có tướng chúng sanh là loại vô tình và hữu tình cũng như nhau, không có tướng thọ giả là thọ mạng thời gian vô lương thọ. Tương tự câu Long Thọ bảo nhờ có Không mà các pháp hiện hữu. Vạn pháp như huyễn vì ý thức nên tạo thành nhị kiến là nhị biên. Khi bỏ nhị biên thì chúng ta đạt được vô tác là vô thủ là vô xã vô đắc vô nguyện. Tâm trạng nầy Phật gọi là Lạc (joy). Tuệ trung thượng sĩ có câu: khi mê thấy không sắc, khi ngộ thấy sắc không.  Mê thì không có và sắc tướng tức là vô tướng hữu tướng phân biệt, ngộ thì sắc tức là Không là tánh Không. Kế tiếp là mê ngộ cũng không phân biệt rõ ràng vì trực nhận trực giác nên ta hết còn phân biệt nhị nguyên. Khi đó đạt đến Chân Không và ngũ nhãn không: 5 mắt Phật mắt Bồ Tát mắt thánh, mắt chư thiên, mắt người cuối cùng. Biển sinh tử con người trôi lăng ngụp lặng như làng sóng nhưng dưới đó là sự tĩnh lặng không có sinh diệt là Phật tánh.

c. Chân không diệu hữu. Chân không diệu hữu ra đời khi có kinh Pháp Hoa có Phật tánh. Chân thật của tánh không là có một điều thật kỳ diệu là Phật tánh. Tuy là trống không nhưng bản chất tìm ẩn là Phật tánh của chúng sanh là tánh giác. Bản chất này nay xuất hiện dưới nhiều tên gọi: Kim Cang gọi là Kim cang ba la mật. Kinh Viên Giác gọi là Viên giác tánh. Kinh Pháp Hoa gọi là tri kiến Phật hay Phật thừa. Kinh Hoa Nghiêm gọi là Trí tuệ Phật. Kinh Lăng Nghiêm gọi là Chân tâm hay Như lai tạng. Kinh Duy ma cật gọi là Pháp môn Bất nhị. Thiền tông gọi là chơn tánh, chân như, pháp thân, bản lai diện mục. Muốn nhận ra nó là vô phân biệt, vô thời gian, vô không gian, Như thị, vô giới hạn số lượng, không đối đãi không tác ý không hình tướng. Giác ngộ là vậy, từ chối từ chối như thiền sư Suzuki bảo sự từ chối liên tục để đến tuyệt đối là cái có, cái hữu lạ kỳ diệu hữu. Đó là bản lai diện mục theo Lục tổ Huệ Năng dạy cho thượng tọa Minh. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác bản lai diện mục thượng tọa Minh ở đâu? Vì khi tâm bình thường tĩnh lặng không nghĩ thiện ác là động thì hiện ta bộ mặt chân thật của ta tức ngộ đạo. Ngộ tánh giác là áp dụng ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm của Kim Cang kinh nên lục tổ Huệ Năng nói ra 5 cái đâu ngờ: Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh; Đâu ngờ tự tánh vốn không sinh diệt; Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ; Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động; Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp. Ngộ đạo phải ngộ nhỏ gọi là tiểu ngộ rồi có đại ngộ và nhiều lần.

d. Nguyên lý Không có 4 lãnh vực: Hư không, Huyễn không, Nhân không, Chân không.

– Hư không: là không gian, khoảng không, không khí hay môi trường. Còn được gọi là không trong 7 đại: đất nước gió lửa không kiến thức. Nhờ có hư không mà vạn pháp có hiện hữu. Theo kinh Lăng Nghiêm, hư không có tánh hư không và tướng hư không. Tánh hư không Phật gọi là thật tánh giác vì tánh giác là thật hư không. Tánh hư không gọi là không đại là tâm chân như, là Như lai tạng bao trùm khắp giới. Tướng hư không là do nghiệp chúng sinh mà hiện hữu khắp đầy mười phương. Tướng hư không tất cả chúng sanh ba cõi không thể tìm ngoài Tánh hư không của Tâm chân như. Ngược lại Tánh hư không của Tâm chân như cũng không thể tìm thấy ngoài tướng hư không, lời kinh Lăng Nghiêm Phật dạy. Tánh là bản chất tướng là hình tướng là hiện tượng. Nhìn lên bầu trời chúng ta thấy không trống rỗng là tướng hư không bao trùm vũ trụ. Tánh là bản chất hư không lại là chân như tâm chân như là vô tướng là bản thể.

– Huyễn không: đứng về nguyên lý không, vạn pháp là không thật thể có, giả tạo nên gọi là huyễn không. Huyễn hữu là vạn pháp có mặt giả tạo không thật thể do duyên sanh, do ngũ uẩn hiện hành. Vì vạn pháp có tên gọi do chúng ta đặt ra từ ý thức của chúng ta mà có. Vạn pháp do ngủ uẩn do duyên kết thành vũ trụ cũng vậy chúng ta cũng vậy và do ý ta đặt tên mà có danh sắc. Huyễn không là nói về bản thể thì do tâm thức mà hình thành thì là huyễn không, do nghiệp mà tạo ra nên có ngả có tôi có pháp nên gọi là ngã pháp. Như vậy nghiệp tướng mà bị xóa đi thì vạn pháp không còn dấu vết nào nữa. Tất cả là không có thật thể nên gọi là huyễn không. 

– Nhân không:  nhân đây là nguyên nhân còn gọi là nhân tố hạt giống của các yếu tố là không, trạng thái không Bát nhã Tâm kinh gọi là ngủ uẩn vai không.

– Chân không: Bồ Tát Long Thọ gọi Trung quán luận là Chân không diệu hữu, hữu là có cách kỳ diệu là Chân như Niết bàn. Niết bàn tịch tĩnh không có nghiệp tướng của các pháp nên không có sanh diệt dơ sạch tăng giảm như Bát nhã Tâm kinh. Kinh Lăng Già tam ấn và Luận Đại thừa Khởi tín đều gọi nghiệp tướng chuyển tướng và hiện tướng là ba tướng được sanh ra. Nhân tạo ra do nghiệp nên gọi là nghiệp tướng sinh ra quả kết quả là chuyển tướng và hiện tướng là tướng hiện tiền. Trong thế giới chân không tịch tĩnh không còn nghiệp tướng nữa nên kinh Bát nhã Tâm kinh gọi là không tướng nên không sanh diệt tăng giảm dơ sạch. Vậy thật sự chân như pháp tánh là chân thật nơi Phật an trú là trạng thái chân không là tánh Không qua kinh Hoa Nghiêm là thế giới không bị ngăn ngại nên gọi là thế giới Vô dư Niết bàn. Chúng ta hiểu đoạn văn này bằng hiểu bản chất vô tướng trong khi hiện tượng thì do nghiệp có hình tướng mà sinh ra. Tu tập là tìm về thế giới chân thật chân như pháp tánh Vô dư Niết bàn.

e. Duy thức luận:  vạn pháp duy thức ba cõi duy tâm là tiêu chí của Duy thức luận do Bồ Tát Vô truớc thế thân được Phật di lạc dạy bảo. Duy thức ra đời sau 700 năm đức Phật nhập diệt.  Để giải quyết tất cả 5 căn đều có cửa vào cơ thể gồm mắt tai mũi lưỡi thân, vậy căn ý cửa vào cơ thể là đâu? Duy thức ra đời đó là ý căn là Mặc na thức là thức số 7 còn gọi là Ego cái ngã cái tôi của thức. Tất cả sẽ đi vào thức cuối cùng là Tàng thức dự trữ để mang đi đầu thai. Như vậy thức số 7 là Mặc na thức sẽ cùng thức số 8 là Tàng thức hay gọi tên là A lại da thức, số 7 là cầu nối , số 8 là tích trữ, nên khi đi đầu thai 2 thức này đi để nối vào ngủ uẩn mới khác hình thành con người đứa bé sinh ra. Chính vì thế mà duy thức nhấn mạnh tu tập để giữ lại trong tàng thức nghiệp và tu tập thức số 7 là thức cái tôi cái ngã thì tu thành vô ngã. Vì ngã do chúng ta thành lập chứ không phải tự nhiên hay do thượng đế nào tạo ra. Chúng ta chỉ là một dòng tâm thức luân chuyển không ngừng mỗi sắc na. Tàng thức trữ các hạt giống gọi là chủng tử từ uẩn Hành do thân khẩu ý mỗi giây phút tạo ra chủng tử vào Tàng thức là huân tập tức là chín mùi tạo thành nghiệp có nghiệp lực. Dưới gốc cạnh khoa học chủng tử là năng lượng, năng lượng này được tạo ra từ hành động thân khẩu ý của ta đi từ ngoài vào tâm thức ta là Tàng thức, rồi năng lượng nào giống nhau thì chồng chất lên nhau tạo từng tầng tâm thức. Năng lượng thiện chồng chất thiện, năng lượng ác thì chồng chất ác , năng lượng không thiện ác thì chồng chất không thiện ác, sự chồng chất gọi là huân tập vì nó không ở yên chạy ra chạy vào không ngừng. Thí dụ đầu tiên có ý ác chạy vô tàng thức trú đó, khi có thời cơ ý ác này chạy ra thành hành động ác chạy vô kết quả trú đó, nhiều lần xảy ra hành ác này chồng chất thành tầng tâm thức ác. Tầng này nhiều quá thì tâm thức thiện ít đi nên bị lấn ép, sau nghiệp lực ác sẽ mạnh dẫn đi đầu thai ác, nhưng cũng dẫn theo tầng tâm thức thiện nên người sanh ra có ác có thiện. Duy thức có 3 lý thuyết căn bản gọi là ba tự tánh: Biến kế sở chấp, y tha khởi, viên thành thật. Biến kế sở chấp là biến là biến đổi, kế là kế thừa, sở là đối tượng và chấp là dựa vào. Biến kế sở chấp là dựa vào hình tướng thay đổi và kế thừa của đối tượng mà cho là sự hiện hửu có một cái tên tức là giả lập là vọng là phân biệt. Y tha khởi là y theo nương theo cái khác mà sinh khởi do duyên mà có, còn gọi là tùy thuộc. Viên thành thật là viên tròn tức hoàn hảo tuyệt đối thật tánh nên gọi là tự tánh tuyệt đối. Ba tự tánh nầy kế tiếp nhau tuần tự của vạn pháp. Tu tập theo duy thức là chuyển tâm thức thành tâm trí (xin đọc bài tôi tìm đường giác ngộ cùng tác giả).

Kết Luận

Tri kiến Phật là hiểu thấu hết tuệ giác Phật dạy cho chúng ta đi xuyên suốt lịch sử của đạo Phật từ Nguyên thủy đến Đại thừa, thống nhất lại là nhất thừa là Phật thừa của kinh Pháp Hoa là tuệ giác tri kiến Phật. Lịch sử đạo Phật từ 5 giai đoạn đến triết lý có 6 nguyên lý và ứng dụng. Về luận có Trung quán luận và Duy thức luận cho ta một tổng quan (summary) kết cấu của toàn thể đạo Phật. Với tổng quan này chúng ta tu tập biết con đường nào mình đi, vị trí nào mình đang đứng, thành quả nào mình đang đạt, tuệ giác nào mình đang có, từ bi nào mình đang mang, hành động nghiệp nào mình đang gánh. Tuy ta chỉ là một dòng tâm thức vận hành nhưng ta biết tuệ giác Phật để vận hành năng lượng nầy thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Qua thiền định chúng ta tư duy tri kiến Phật như thế là tu thông minh, không chạy theo tu phong trào, tu mù quáng. Tri kiến Phật là theo bước chân Phật tuy biết rằng tự mình thấp đuốc mà đi tuy độc hành cô độc nhưng có Phật trước mặt là năng lượng là ánh đạo vàng dẫn dắt ta đi đúng đường. Khi ta chết ta vẫn một lòng theo bước chân Phật đi bằng tâm thức này, tinh tấn tin tưởng theo người với nhất thiếc duy tâm tạo, tâm thức ta dẫn ta đi qua nhiều kiếp, với nguyện lực: Bất Thối Chuyển của Bồ Tát hạnh. Nam Mô Thích ca mâu ni Phật!!

Phổ Tấn

source https://www.niemphat.vn/tu-duy-ve-tri-kien-phat/

Sát sanh và quả báo

Không sát sinh là giới đầu tiên trong năm trọng giới của Phật Giáo. Trong các ác nghiệp, chỉ có sát sinh là nặng nhất, quả báo sát sinh cũng nặng nề nhất. Vậy nhưng khắp dưới gầm trời, không một ai chẳng tạo sát nghiệp.

Chẳng biết rằng loài vật cùng ta đều tham sống sợ chết như nhau, đều có linh tánh như nhau và đều có Phật tánh như nhau.  Chúng do ác nghiệp mà đọa vào thân súc sanh, ta may mắn do thiện nghiệp mà được thân người. Một chút tâm Từ Bi chẳng khởi, giết hại, ăn nuốt lẫn nhau. Đời này tôi giết anh, kiếp sau trả nợ mạng. Liên miên trói buộc nhau trong nhân quả luân hồi, chẳng đáng đau xót lắm ư?

Do sát nghiệp cố kết đến nỗi phát sanh cái họa đao binh do người gây ra và các thiên tai: Nước, lửa, hạn, lụt, đói kém, bệnh dịch, gió lốc, địa chấn, biển trào, sông ngập v.v… nối tiếp nhau giáng xuống.

Năm yếu tố cấu thành tội sát sanh

  1. Đối tượng là chúng sinh.
  2. Mình biết đó là chúng sinh.
  3. Có tâm cố sát.
  4. Ra sức giết.
  5. Đối tượng bị chết dưới tay mình

Mời quý vị nghe bài pháp thoại Sát sanh và quả báo được thầy Thích Thiện Tuệ thuyết giảng tại chùa Hòa Khánh, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh, ngày 15/11/2020

YouTube Video

source https://www.niemphat.vn/sat-sanh-va-qua-bao/

Chìa khóa sống an lạc

Trong cuộc sống, những sự việc xảy ra hàng ngày đều có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của chúng ta. Những lúc cuộc sống gặp thuận lợi, may mắn hoặc ít nhất là trong những hoàn cảnh bình thường, ổn định, chúng ta có thể dễ dàng duy trì được tâm an lạc. Thế nhưng, khi cuộc sống chẳng may gặp phải những âu lo bất trắc, khi phải đối mặt với những thất bại triền miên, những mặt trái phũ phàng của cuộc đời hoặc khi bản thân tưởng như phải lâm vào hoàn cảnh khốn cùng bế tắc, mấy ai trong chúng ta còn duy trì tâm an lạc?

Điều khó nhất trong cuộc sống, phải chăng, chính là làm sao duy trì được đời sống an lạc?

Nhiều khi, những điều khiến cho ta cảm thấy hạnh phúc, an lạc trong cuộc sống không hẳn là ở học vấn, tài năng, sắc đẹp, tiền bạc hay hoàn cảnh, cũng không hẳn là ở những thành công hay thất bại trong hiện tại, mà chính là ở thái độ sống sống của mỗi người chúng ta trước mọi hoàn cảnh.

Mời quý vị nghe bài pháp thoại Chìa khóa sống an lạc được sư cô Thích Nữ Liễu Pháp thuyết giảng tại chùa An Lạc, Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh

YouTube Video

source https://www.niemphat.vn/chia-khoa-song-an-lac/

Thiên hạ phụ tử

Thiên hạ phụ tử trọn bộ 7 tập

Cẩn dịch: vọng tây cư sĩ, mộ tịnh cư sĩ, liên tú cư sĩ.

Thiên hạ phụ tử tập 1: Con cái trong thiên hạ đều có thể dạy tốt

Đứa Bé 5 Tuổi Thực Tiễn Đệ Tử Quy. Văn Hóa Truyền Thống, Giáo Dục Thánh Hiền. Đệ tử quy là bộ cẩm nang quý báu, nếu ai có thể thực hành theo và áp dụng vào trong cuộc sống thì sẽ đạt được hạnh phúc viên mãn, thuận lợi trên sự nghiệp

YouTube Video

source https://www.niemphat.vn/thien-ha-phu-tu/

8 thói quen thường thấy của người tích cực

Cuộc sống của mỗi người, luôn là tập hợp của những gì bất ngờ rất khó đoán trước, của những thay đổi, những thăng trầm. Thế nhưng, cùng một cuộc sống ấy, có những người lúc nào cũng cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ, sẵn sàng đối mặt với mọi thứ để rồi từ đó, họ đạt được thành công và được nhiều người yêu mến. Và cũng có những người lúc nào cũng sống trong một bầu không khí u ám, không có động lực để làm bất kì việc gì.

Vậy đâu là lý do cho sự khác biệt ấy? Câu trả lời có lẽ là thái độ của bạn đối với cuộc sống. Chỉ khi nào bạn duy trì cho mình một thái độ sống tích cực, tươi sáng thì bạn mới có thể nắm bắt được những cơ hội xuất hiện trong đời và hướng tới một cuộc sống hạnh phúc tràn đầy. Và dưới đây là 8 thói quen thường thấy của người tích cực để bạn tham khảo và áp dụng cho cuộc sống hằng ngày nhé

8 thói quen thường thấy của người tích cực
  1. Mỗi ngày, bạn nên dành thời gian để tập thể dục, thiền, yoga, đi dạo… hay bất kỳ hoạt động nào mang lại sự bình yên và thư giãn.
  2. Luôn nhìn nhận mọi vấn đề dưới góc độ tích cực, giữ đầu óc luôn được sáng suốt. Mọi thứ đều có 2 mặt, chỉ khi ta nhìn vào mặt tích cực thì những điều tiêu cực “cỏn con” đó mới không thể làm ảnh hưởng đến mình.
  3. Chúng ta sẽ có lúc cảm thấy tức tối, giận dữ, chán nản với chính bản thân mình. Thay vì né tránh cảm xúc bản thân, hãy chấp nhận và tìm hiểu đâu là nguyên nhân, tìm cách giải quyết chúng.
  4. Hãy học cách yêu thương bản thân mình để có thể yêu thương người khác. Đừng dựa dẫm vào tình yêu thương của những người xung quanh, như vậy sẽ khiến bản thân mất định hướng và không thể kiểm soát cảm xúc của mình.
  5. Tránh tiếp xúc, tránh dành thời gian cho những người có suy nghĩ bi quan cùng với lối sống tiêu cực. Giống như năng lượng tích cực, năng lượng tiêu cực cũng có sức lan tỏa mạnh mẽ. Chính vì thế, tránh xa khỏi những người có thói quen độc hại là cách tốt nhất giữ cho bản thân một lối sống lành mạnh và luôn yêu đời.
  6. Một ngày làm việc năng suất hay một ngày hoàn toàn thư giãn, chạy bộ thêm được 15 phút mỗi ngày, nấu được một món ăn mới… đều là những thành tựu nhỏ bé đáng được trân trọng. Những người tích cực luôn tìm được lý do để tạo được niềm vui cho mình và đối với họ, những điều nhỏ bé đều có ý nghĩa đặc biệt của nó.
  7. Lạc quan là một trong những phẩm chất quan trọng giúp chúng ta duy trì năng lượng tích cực. Nhưng không nên để tinh thần lạc quan đó làm lu mờ đi năng lực phán đoán và phân tích của mình. Hãy nhớ rằng, đời không như mơ và chúng ta không hoàn hảo như mình nghĩ.
  8. Hãy đặt cho mình một hay một vài mục tiêu để lấy đó làm tiền đề, thúc đẩy động lực để bản thân chăm chỉ hơn và hoàn thiện hơn mỗi ngày.

source https://www.niemphat.vn/thoi-quen-thuong-thay-cua-nguoi-tich-cuc/

6 biểu hiện của người nội tâm có tu tập

Tu tập, một cụm từ mà chắc hẳn quý vị nghe cũng đã nhiều, tuy nhiên cái biểu hiện rõ nhất của người có tu không phải là vốn kiến thức Phật Pháp tích lũy được, mà chính thái độ sống của người đó được toát ra từ ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý .

Đa phần chúng ta thực hành máy móc, nghe ai nói sao thì làm vậy, mà không có Chánh Kiến và sự suy xét, tư duy cho thấu đáo, để từ đó có thể rút ra kinh nghiệm trong việc dụng tâm và tu tập.

biểu hiện của người nội tâm có tu tập

Người tu đúng là tiền của, cái ăn, cái mặc tuy không giàu như người đời nhưng lúc nào cũng có đủ, người ấy không tham, không hưởng thụ, và lấy đời sống đơn giản và thanh bạch làm nguồn vui.

Ở bài viết này người viết không có đi vào cụ thể của từng pháp tu, mà chỉ trình bày về những dấu hiệu, hay kết quả hiện ra của một người tu đúng, gieo nhân đúng, công phu đúng qua một khoảng thời gian tu nhất định, kết quả tùy vào phước duyên và nỗ lực của từng người.

Người tu đúng thì qua thời gian các dấu hiệu sau thường hiện ra:

1. Phong cách điềm nhiên, nhẹ nhàng, bình tĩnh, thư thái

Vì qua một quá trình dụng tâm, kiểm soát tâm, giống như việc thuần hóa một con thú hoang dại, quen nhảy nhót, là tâm chúng ta. Sau một thời gian, nếu người ấy kiểm soát tâm tốt, buông bỏ cái tôi, xả ly sự kiêu mạn thuộc về..”sở trường, sở đoản” của bản ngã thì sự điềm đạm, điềm nhiên và thư thái sẽ hiện ra, nó là kết quả tự nhiên của một cái tâm đã được chế ngự và thuần hóa.

2. Mặt mũi, tướng mạo nhìn tươi và sáng

Vì giữa tâm và thân tướng, chúng có mối liên hệ khá mật thiết với nhau. Một người mà trong tâm an vui, có tu tập và chuyển hóa được các nghiệp chướng thì dần dần diện mạo bên ngoài của người ấy nhìn sẽ rất sáng, mặt lúc nào cũng rất tươi vui, không có u sầu, đau buồn, lúc nào cũng tràn đầy sức sống. Người nào có được những điều như vậy, thì đây là một dấu hiệu của người tu.

3. Giọng nói có ái ngữ, nồng hậu

Đây là do bên trong tâm người ấy tu qua thời gian đã có sự tăng trưởng tâm từ tâm bi, một tình thương bình đẳng, và rộng lớn với tất cả muôn loài. Từ sự thương yêu chân thành cho dù giọng nói mộc mạc, chất phác mà vẫn đầy nhân văn, ấm áp, nồng hậu và đến được lòng người.. Và hơn nữa, cũng do sau một quá trình tu và kiểm soát khẩu nghiệp, biết cân nhắc trước khi cất lời, nên những lời nói của họ dần trở nên rất chuẩn mực. Như họ không nói dối, không nói ác khẩu, không nói hai lưỡi, không nói chia rẻ, không nói xấu, viết xấu đả kích, bộ nhọ sau lưng người …

4. Đời sống tinh thần mãn túc, cuộc sống vật chất ổn định không bị thiếu thốn

Nhiều người tu, nhưng càng tu mà càng càng nghèo túng, lúc nào cũng bị những nhu cầu vật chất căn bản bức bách. Đây là dấu hiệu của tu mà không có phước, thiếu phước, vì không biết làm phước. Nên người tu đúng là tiền của, cái ăn, cái mặc tuy không giàu như người đời nhưng lúc nào cũng có đủ, người ấy không tham, không hưởng thụ, và lấy đời sống đơn giản và thanh bạch làm nguồn vui.

5. Mọi việc đều chuyển từ xấu thành tốt

Trong cuộc sống, khi sinh hoạt, giao lưu và làm ăn trong xã hội, không phải lúc nào chúng ta cũng gặp toàn thuận lợi cả. Có những lúc cũng khó khăn, hoặc bị đặt trong những tình huống khó xử, khó giải quyết, rất nan giải. Thế nhưng người tu tốt, chắc chắn sẽ chuyển được nghiệp cũ và có được sự gia hộ của Chư Phật, nhờ đó họ sẽ từ từ tháo gỡ ra được mọi bế tắc. Mọi việc xấu sẽ biến thành tốt dần dần như ý nguyện. ”Phước tùy tâm sanh. Cảnh tùy tâm chuyển” là thế!

6. Trong gia đình thì thuận hòa, an vui

Do tâm được huân tu tốt, tâm từ lan tỏa tốt nên tâm của người tu ấy sẽ lan tỏa những nguồn năng lượng tốt ra xung quanh, và những người sống chung cùng, sống gần sẽ dần bị thay đổi theo, là cũng hiền lành, và thánh thiện dần. Một khi cảm hóa đươc ai cũng hiền lành, tức là họ cũng đang gieo nhân lành, tức có quả thiện quả may mắn hạnh phúc. Hơn nữa, khi một người tu tốt từ trường của họ sẽ tự động thu hút quý nhân giúp đỡ cho gia đình và quyến thuộc cuả người.
Nên gia đình người đó cũng sẽ gặp được nhiều may mắn hạnh phúc. Trên đây là những dấu hiệu cơ bản của người tu đúng hiện ra, bạn có thể viết thêm những đặc điểm khác dựa trên trải nghiệm cá nhân. Còn nếu chúng ta tu thời gian mà không có dấu hiệu nào trên đây hết. Thì cần nên xem xét lại cách tu, có thể mình đang tu sai, tu trật điều gì đó.
Tu có nghĩa là chuyển hóa tư tưởng và hành vi và sống có hạnh phúc hơn, và tu có nghĩa là cạo tâm chứ chẳng phải cạo đầu.  

Như Nhiên- Thích Tánh Tuệ

source https://www.niemphat.vn/bieu-hien-cua-nguoi-noi-tam-co-tu-tap/

Create your website at WordPress.com
Get started